Thứ Năm, 30 tháng 8, 2012


Team-based learning                                              


With the globalisation of information technology (IT) and the worldwide access to the internet, people from all areas of learning are finding themselves using some form of information technology in the workplace. The corporate world has seen a boom in the use of IT tools, but conversely, not enough people with IT skills that can enter the workplace and be productive with minimal on-the-job training.
A recent issue of the New York Times reports that many companies are looking for smart students who may have a budding interest in IT. Some companies, trying to encourage students to attend interviews, provide good salary packages and challenging work environments. For example, one American IT consulting company offers high salaries, annual bonuses, and immediate stock options to potential recruits. It also brings in 25 to 40 prospective applicants at a time for a two- day visit to the company. This time includes interviews, team exercises and social events. The idea behind the team exercises is that the applicants get to see that they will be working with other smart people doing really interesting things, rather than sitting alone writing code.
In the past 10 years, employers have seen marked benefits from collaborative projects in product development. Apart from the work environment, there is also a similar body of research indicating that small team- based instruction can lead to different kinds of desirable educational results. In order to prepare IT graduates to meet these workplace requirements, colleges and universities are also beginning to include team- based educational models.
One of the leaders in promoting team- based education is the American Intercontinental University (AIU), which has campuses world- wide. AIU offers programs in IT with a major portion of the curriculum based on team projects. AIU has a large body of international students and students from different educational backgrounds. This team- based learning gives the students a sense of social and technical support within the group, and allows students first-hand experience of both potential successes and of inherent problems encountered when working with others.

Team- oriented instruction has not been the common mode of delivery in traditional college settings. However, since most college graduates who choose to go into an IT work environment will encounter some form of teamwork at work, it is to their advantage that they are educated using collaborative learning and that they are taught the tools needed to work with different people in achieving common goals or objectives.
In team-based learning, students spend a large part of their in- class time working in permanent and heterogeneous teams. Most teams are made up of individuals with different socio- cultural backgrounds and varying skill levels. Team activities concentrate on using rather than just learning concepts, whilst student grades are a combination of overall team performance and peer evaluation of individual team members.

In a team-based environment, the teacher takes on the role of a facilitator and manager of learning, instead of just providing information to passive students. The facilitator/teacher also guides the team in identifying their goals and establishing standards of team performance. Team exercises then help the students to improve their problem- solving skills by applying theory to simulated real- world situations. Working as a team allows students to adopt new roles and empowers them to control their own learning. Students in teams are caught to use each other as resources and accept the responsibility of managing tasks

Thứ Tư, 22 tháng 8, 2012


“Việt Nam nên trở thành bếp ăn của thế giới” – Philip Kolter

Có một căn cứ đáng giá để đồng tình với quan điểm trên của ngài Philip Kolter, đó là Việt Nam vốn là một nước nông nghiệp. Từ trong cách mạng, sau khi giành độc lập dân tộc, từ thời kỳ đổi mới cho tới thời điểm này thì kinh tế nước ta vẫn chủ đạo là kinh tế nông nghiệp. Gần 90% dân số sống ở khu vực nông thôn, (năm 2005) khoảng 60% lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản. Tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GDP vẫn ở mức 20-30%. Là một trong những nước dẫn đầu về xuất khẩu nông sản ra thế giới. Thậm chí, nền kinh tế nông nghiệp còn ảnh hưởng sâu sắc vào trong cả lối nhận thức, lối tư duy truyền thống của người Việt – Tư duy nông nghiệp, tư duy tiểu nông.
Nhưng hàm ý của ngài Philip Kolter rõ ràng nhắm tới việc xây dựng hình ảnh của một quốc gia, của dân tộc. Vấn đề này luôn là phức tạp – mọi người ai cũng nghĩ thế, nên còn phải “bàn nhiều”! Bài viết này chỉ nhằm phân tích một khía cạnh của nhận định trên: “bếp ăn của thế giới” trong mối quan hệ với du lịch.
Một số quốc gia châu Á đã khắc họa được một hình ảnh riêng về đất nước của họ. Trung Quốc là “công xưởng của thế giới”, Ấn Độ là “văn phòng của thế giới”. Những hình ảnh gắn liền với sự nhộn nhịp, náo nhiệt của kinh tế thị trường, nơi mọi người khắp nơi trên thế giới đến làm ăn, hợp tác. Vậy “bếp ăn của thế giới” nghe có vẻ không được “kinh tế” cho lắm. Nghĩ tới nhà bếp là nghĩ tới ăn uống, mà nhu cầu ăn uống cũng chỉ đơn giản gồm hai loại: nhu cầu về những bữa ăn hàng ngày vì mục đích cơ bản là sinh tồn, nhu cầu thứ hai cao cấp hơn – thưởng thức. Nếu Việt Nam được khắc họa là “bếp ăn của thế giới” thì mọi người sẽ đến về mục đích gì, nhu cầu gì? Làm ăn? Tất nhiên là luôn có những mối quan hệ hợp tác kinh tế với bất kỳ một chủ thể kinh tế nào, ngay cả đó là một quốc gia, và mục đích này càng nhiều hơn khi Việt Nam đang tăng cường hợp tác quốc tế. Nhưng điều này lại không liên quan lắm tới bếp núc!
Đến Việt Nam với mục đích định cư lâu dài để được thưởng thức các món ăn Việt hàng ngày, hàng tháng! Có vẻ cũng không hợp lý lắm. Hợp lý nhất là họ đến để được thưởng thức phong vị riêng có của những món ăn Việt. Tất nhiên không đơn thuần là chỉ đi để thưởng thức, họ có thể sang làm ăn, hợp tác, đi du lịch, thăm thân, …nhưng nhu cầu thưởng thức món ăn Việt sẽ là “điều không thể bỏ qua” một khi họ đã đến Việt Nam.
Du lịch có thể coi như một đại sứ văn hóa vô hình quảng bá hình ảnh đất nước tới du khách quốc tế. Vậy nếu Việt Nam muốn xây dựng hình ảnh “bếp ăn của thế giới” thì việc quảng bá hình ảnh này tốt nhất nên gắn liền với du lịch. Du lịch Việt Nam từ trước vẫn chủ đạo là du lịch văn hóa, tuy nhiên văn hóa ẩm thực vẫn chưa thực sự được chú ý tới. Rõ ràng người làm du lịch đang bỏ qua một giải pháp làm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch. Ẩm thực Việt đang thiếu đi những giải pháp định vị và nỗ lực quảng bá cần thiết.

Những gợi ý về việc xây dựng hình ảnh Việt Nam – Bếp ăn của thế giới.


■ Tổ chức thu thập, khảo sát về món ăn đặc sắc ở mỗi vùng miền từ đó đưa ra những tổng kết danh sách những món ăn the từng chủ để khác nhau (món biển, món canh, món Huế, hoa quả vùng…)
■ Đăng cai tổ chức các cuộc thi, triển lãm ẩm thực khu vực và quốc tế.
■ Đầu tư vào công đoạn chế biến nông sản, kỹ thuật sau thu hoạch.
■ Thực hiện nghiêm túc điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm, nâng cao nhận thức của người nuôi trồng nông sản và người chế biến nông sản về an toàn vệ sinh thực phẩm, sức khỏe cộng đồng. Có chế tài xử phạt mạnh mẽ, đặc biệt chú ý tới các cơ sở phục vụ khách du lịch.
■ Xây dựng bộ tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm quốc gia.
■ Khuyến khích kinh tế nông nghiệp ở nông thôn.
■ Tăng cường hoạt động của cơ quan hải quan trong việc giám sát, ngăn chặn những nông sản kém chất lượng nhập lậu từ các quốc gia khác vào trong nước.

Thứ Ba, 14 tháng 8, 2012


Đặc tính thứ 6 của một dự án đầu tư


Một xã hội muốn phát triển thì cần đầu tư, cần những dự án đầu tư. Đó hẳn là công thức cho sự phát triển của bất kể nền kinh tế nào, ở bất kỳ quy mô và loại hình kinh doanh nào. Bởi, những tác động tích cực mà một dự án đầu tư mới hay đầu tư phát triển có thể mang lại:
  Đóng góp thuế cho Ngân sách Nhà nước. Thuế chính là nguồn lực lớn nhất để Nhà nước đầu tư trở lại xã hội nhằm nâng cao cơ sở hạ tầng và chất lượng an sinh xã hội.
  ▪ Phát triển cơ sở vật chất, hạ tầng tạo ra năng lực sản xuất mới cho xã hội.
  ▪ Tạo ra việc làm, giảm bớt gánh nặng xã hội và các vấn đề xã hội tiêu cực.
  ▪ Lợi ích liên ngành: Khi một sự án đầu tư sẽ làm nảy nở các ngành nghề “ăn theo” như nhà ở cho công nhân viên, phương tiện vận chuyển, thực phẩm, các tiện ích tài chính, ngân hàng… và kéo theo sự phát triển của nhiều ngành nghề liên quan.
  Thúc đẩy tiêu dùng và đầu tư trong tương lai.
  ▪ Thanh lọc thị trường – những doanh nghiệp đầu tư thành công sẽ chiến thắng, những doanh nghiệp ỉ lại và đầu tư kém hiệu quả sẽ phải rút khỏi thị trường, từ đó làm cho thị trường trở lên lành mạnh hơn.

Ở đây, ta thấy “Tính nhân văn” của một dự án đầu tư. Bởi, hiểu một cách nôm na, một dự án đầu tư tốt sẽ tạo ra một xã hội tốt, doanh nghiệp tốt, thị trường tốt, và những con người tiến bộ. Và đó chính là đặc tính thứ 6 của một dự án đầu tư: Một dự án đầu tư (nên) có những đặc tính sau,
- Tính sinh lợi: Một dự án cần phải tạo ra lợi ích cho (những) người đầu tư vào nó. Nếu một dự án không thể sinh lợi thì sẽ chẳng ai sẵn sàng đầu tư vào nó cả.
- Tính rủi ro: Luôn luôn có rủi ro, bởi đầu tư là việc ta hy sinh những nguồn lực hiện tại để kỳ vọng vào tiêu dùng trong tương lai. Để tiến tới thành quả trong tương lai luôn luôn có những bất chắc, những biến cố không lường trước được xảy ra, và nó tạo ra rủi ro cho người đầu tư.
- Tính dài hạn: Từ quá trình xây dựng dự án, thực hiện và thu hồi thành quả từ dự án thường kéo dài. Tùy vào quy mô dự án và các biến cố bất thường xảy ra làm cho dự án có độ dài khác nhau.
- Tính một chiều: Khi bỏ vốn vào đầu tư thì phải duy trì hoạt động đầu tư cho tới khi có được thành quả. Không thể đầu tư giữa chừng hay bỏ dở đầu tư mà muốn đem về thành quả được.
- Tính lan tỏa: Một dự án có ảnh hưởng lan tỏa tới lợi ích và trách nhiệm của nhiều bên liên quan.
- Tính nhân văn: Khi đầu tư vào một dự án, những chủ thể đầu tư đã góp phần làm cho xã hội tốt đẹp hơn bằng việc nâng cao năng lực sản xuất của xã hội, tạo công ăn việc làm và đầu tư cho tương lai.
Việc bổ sung đặc tính thứ 6 – tính nhân văn còn mang một hàm ý nữa, đó là: Chúng ta giảng dạy về đầu tư, về những dự án đầu tư phát triển để người thu nhận kiến thức hiểu đúng đắn về đầu tư và khuyến khích thế hệ nhân lực được đào tạo này sẽ thực hiện những dự án đầu tư trong tương lai. Nhưng bản thân năm đặc tính nêu trên tỏ ra thiếu tính khích lệ khi nói nhiều tới những yếu tố “rủi ro” có thể xảy đến khi thực hiện đầu tư như: rủi ro, dài hạn, một chiều, chịu sự chi phối của nhiều bên liên quan… điều này vô hình chung đã “dọa” đối tượng tiếp nhận kiến thức rằng đầu tư nhiều phần sẽ dẫn tới thất bại, hay đầu tư cần phải hết sức cân nhắc cẩn thận (thực tế thì không nhất thiết phải vậy). Đặc tính thứ 6 bổ sung một cách mạnh mẽ trong việc khích lệ người thu nhận kiến thức thực hiện các dự án đầu tư phát triển trong thực tế.
Một dự án đầu tư phát triển hơn hết là hướng tới mục đích “nhân văn”, đóng góp vào sự phát triển của xã hội, và coi “phụng sự xã hội là cách làm giàu khôn ngoan nhất”.

Chủ Nhật, 29 tháng 7, 2012


Love Rain – Kỷ niệm ngày mưa và tản mạn suy nghĩ về tình yêu Đẹp


Thời gian tôi và em yêu nhau cũng đã có nhiều những kỷ niệm đẹp, không chỉ có những ngày mưa. Tôi viết có lẽ vì lúc này, tôi ngồi đây, yên lặng, bên ngoài cửa sổ trời đang mưa tầm tã, và mặc dù em đang ở không quá xa tôi, mặc dù tôi vẫn được bên cạnh em cách đây không lâu, nhưng cũng đã làm tôi nhớ em nhiều đến nhường nào và gợi nhớ lại trong tôi những kỷ niệm hai đứa bên nhau dưới trời mưa như thế này.




Tối đó, trời cũng mưa xối xả… Có lẽ vì đã hơn một lần hẹn với em rằng hai đứa sẽ đi dạo Hồ Tây mà không thành nên tối đó tôi quyết tâm đưa em đi bằng được. Có thâm niên cắm rễ ở cái đất Thủ đô này khá nhiều năm học xa nhà nên tôi và cả em nữa cũng không còn xa lạ, không còn thích thú lắm với mấy điểm rong chơi ở Hà Nội. Có dẫn bạn bè nơi khác về thăm Thủ đô hay anh em dưới quê lên chơi thì còn dẫn đi Bảo tàng, Lăng Bác, Công viên, Vườn bách thảo…chứ không nhiều lựa chọn trong số đó còn phù hợp cho tôi và em nữa. Cũng không có nhiều thứ đẹp đẽ để ngắm ở Hồ Tây, và người ta đi Hồ Tây chắc cũng chẳng phải đi ngắm, quan trọng đối với tôi và em là thời gian được ở bên cạnh nhau, được riêng tư và cũng muốn thả mình vào với thiên nhiên, với gió và nước mênh mông.

Hai đứa đi xe máy được khoảng một nửa vòng hồ, thực ra là tôi cố đi thêm, cố đi với ý muốn được bên cạnh em nhiều hơn dù em đã nhắc tôi đi về sớm kẻo mưa dông kéo tới. Vòng hồ khá rộng, nên đi trên bờ hồ nhìn bầu trời tối mịt và sấm chớp đằng xa khá rõ, sấm thì càng lúc càng liên hồi, càng làm em thấy lo lắng hơn. Quay xe ngược lại chứ không đi tiếp nữa nhưng cũng chỉ kịp đi tới điểm bắt đầu đi vào hồ là mưa đã nặng hạt. Lúc đó em cũng không chắc là mình có mang áo mưa theo không, tôi thì vẫn tiếp tục lái xe vòng qua khu vực Lăng Chủ tịch. Đến đây thì mưa đã nặng hạt hơn và mau hơn, nhiều người dừng lại dưới tán cây để mặc áo mưa, và tôi cũng chỉ dừng lại khi em giục từ đằng sau lưng vì em nhớ ra hình như có mang theo một chiếc áo mưa đơn. Và đúng là một chiếc áo mưa đơn thật – loại mỏng và chỉ để dùng tạm, tôi nhường em mặc nhưng em đẩy cho tôi bảo tôi mặc vào và em ngồi sau sẽ núp vào người tôi để đỡ bị mưa ướt.

Nhưng rồi mưa vẫn tiếp tục đổ xuống nhiều hơn. Chỉ đi được qua hai nhịp đèn giao thông là tôi đã muốn dừng lại vì nghĩ em ngồi đằng sau chẳng thể núp mưa được nữa, mưa như gáo nước lớn đổ thẳng xuống đường phố vậy. Rẽ vào một ngõ nhỏ để tránh mưa, dừng xe dưới một ngôi nhà cao tầng có phần trên nho ra mặt ngõ và cởi bỏ chiếc áo mưa mỏng ra để khỏi làm ướt cả hai. Quay lại hỏi han rồi tôi chợt nhớ ra lời thách thức của em lúc trước: “Đố bạn vừa lái xe vừa quay lại thơm được mình?!”, thấy cơ hội đã đến, tôi quay lại khi em vừa kịp nói “Không, không” tôi đã thơm lên má đang ngượng ngùng của em. Em nói đúng, tôi đã may vì trời mưa to nên mới phải dừng xe lại và như vậy mới chiến thắng lời thách thức của em. Và em tự phạt mình bằng ...một nụ hôn! Tôi đã bất ngờ!!
Thêm một vài người qua lại và một hai chiếc xe cũng đang trú mưa gần đó khiến tôi và em cảm thấy không thoải mái. Khi trông thấy mưa có vẻ đã ngớt hạt, tôi đã tính liều đi xe một mạch về nhà, mặc kệ ướt thế nào đi nữa, thế là phóng xe ra khỏi ngõ. Nhưng oái oăm, trời lại mưa to hơn nữa, trắng xóa, và đường bắt đầu ngập nước. Em hỏi tôi nên dừng lại tìm chỗ trú mưa vì nếu đi tiếp sẽ không chỉ bị ướt mà còn rất nguy hiểm khi tôi còn nhìn chẳng rõ đường đi nữa. Tôi nghe em rẽ vào ngõ lần thứ hai, lần này đi sâu vào ngõ hơn và tìm được một cổng ngõ nhỏ có mái che khá lý tưởng để trú mưa. Dựng xe xuống và hai đứa bắt đầu nghĩ xem làm gì trong lúc chờ mưa tạnh. Em có ngay một ý tưởng khá là “bất khả thi”: mang sách ra ôn bài!! Vì trời thì tối và ánh đèn cũng không hắt vào tới chỗ hai đứa đứng được. Tôi định mở slide trên điện thoại rồi cùng ôn bài với em nhưng cũng chẳng được mấy phút. Và giải pháp trở về với sự hợp lý của nó: cùng nhau tâm sự. Tôi kéo em lại gần và ôm lấy, em không được tự nhiên những cũng bắt đầu tâm sự trong vòng tay của tôi.

Trời vẫn tiếp tục mưa cho tới khoảng tiếng rưỡi sau. Em giục tôi đi về khi trời đã tạnh hơn nhưng tôi thì vẫn muốn được bên em nhiều hơn. Hai đứa chấp nhận đi về khi mưa vẫn chưa ngừng hẳn. Em cũng ướt hết cả và tôi cũng vậy. Đưa em tới tận cửa cổng, em lấy cho tôi một chiếc áo mưa dầy hơn, tôi đã định không mặc vì lúc đó người cũng đã ướt sũng, nhưng vì lạnh nên vẫn miễn cưỡng mặc vào. Đúng là rất lạnh, càng lạnh hơn khi lái xe về một mình không còn em ngồi sau, và chiếc áo mưa đã giữ ấm cho tôi nhiều, cảm ơn em!

P/s: Lúc đưa em về gần tới nhà, có lẽ vì thương tôi ướt sũng mà sắp phải lái xe đi về một mình, em nói động viên: “Bạn mà là con gái thì cho bạn ở lại nhà mình” :”*

“Mưa xả stress”… Gọi như vậy vì cơn mưa đó xuất hiện vào cuối ngày thi kết thúc học kỳ hè của tôi và em, cũng ám chỉ rằng cơn mưa cũng té tát như cách mà người ta muốn xóa tan đi hết sự bực dọc, áp lực, stress trong cuộc sống vậy. Cũng mới chiều vừa qua thôi, tôi và em cùng kết thúc ca thi, em còn phải thi một ca nữa vào cuối ngày và tôi ở lại chờ. Ngồi ghế đá dưới sân trường dễ dàng nhận thấy một con mưa lớn đang kéo đến, mây đen kịt bầu trời và sấm bắt đầu dội liên hồi. Chờ gần hai tiếng đồng hồ, tôi thêm phần sốt ruột vì có vẻ như cơn mưa bắt đầu đổ xuống. Chăm chú vào điện thoại, cuối cùng thì em cũng bước ra khỏi phòng thi và gọi điện tìm tới chỗ tôi. 


Hai đứa cũng chỉ kịp ra tới nhà xe là mưa bắt đầu rơi. Chỉ em ra đứng chờ ở thư viện còn tôi thì vào nhà xe lấy xe. Ra tới chỗ trả vé, đang loay hoay tìm tiền lẻ để trả tiền vé xe thì cơn mưa như trút nước đổ xuống, trắng xóa cả lối vào nhà xe.   Mưa khủng khiếp đến nỗi chỉ mới hai ba phút trôi qua mà con đường vào trường đã ngập ũng nước vì không thoát kịp. Trả xong tiền xe và lấy lại một đống tiền lẻ, tôi bỗng có chút lưỡng lự muốn đứng lại chờ khi các cô trông xe tốt bụng khuyên tôi dựng xe chờ mưa ngớt rồi đi về kẻo cảm lạnh. Trời tiếp tục mưa to hơn. Tôi đã cân nhắc nhanh chóng và nghĩ mình không thể để em chờ một mình dưới trời mưa dông như vậy, cứ tưởng tượng như có mỗi một mình em bơ vơ trú mưa ở đó làm tôi không thể chùn chân lại được. 


Ngồi lên xe và phóng nhanh lại phía thư viện. Đoạn đường ngắn ngủi và tôi nhanh chóng nhìn thấy em. Em mỉm cười, tôi thầm biết lý do nụ cười đó và đáng lẽ nên gỡ nhanh mũ bảo hiểm ra rồi chạy vào trong nhưng tôi lại cố đủng đỉnh thêm chút dưới mưa ướt để em thấy thương tôi hơn! (...tình yêu mà!) Chiếc áo sẫm màu thấm nước mưa làm tôi trông như ướt sũng ra vậy. Tôi đi lại phía em, đặt mũ bảo hiểm lên cạnh tường, để cặp xuống và cởi luôn đôi dép sũng nước ra, ôm trêu em vào người mình đang ướt nhem. Cái khuôn mặt em nhăn nhó khó chịu một cách đáng yêu, tôi “buông tha” em và nhận một cú đấm vào bụng! 


Có vẻ thích thú với trò đấm đá, em tiếp tục đấm vào mặt và bảo tôi giả vờ quay theo chiều tay em - đẹp như trong phim hành động vậy. Tôi tỏ vẻ miễn cưỡng không thích làm em chóng chán và chuyển từ đấm giả sang đấm thật, em đấm “bùm bụp” và tất nhiên là chẳng làm tôi cảm thấy đau gì cả (chỉ có một quái chiêu của em làm tôi đau thật sự - trò của walking dead!). Em ngồi xuống và chìa tay mượn lấy điện thoại của tôi để xem ảnh và đọc tin nhắn! Lần này, dù nghỉ hè ở quê gần tháng mới ra nhưng tôi cũng không chụp được nhiều ảnh nên cũng không có nhiều ảnh để xem. Mưa vẫn cứ xối xả, tôi tính bày vài trò để trêu em nhưng nhận ra bối cảnh có vẻ không thuận tiện khi vẫn có người qua lại và cũng còn vài người cũng đang trú mưa gần đó. Tôi kể về buổi hẹn gặp anh bạn tối nay, em bắt đầu thái độ và trêu theo kiểu “gán ghép” người đó với tôi thành một cặp, gọi anh bạn tôi là “nàng của bạn”. Kiếm cớ bực bội, tôi cù ky và đuổi em lòng vòng qua mấy cái cột lớn. Em hưởng ứng thêm bằng trò trốn tìm , em bé nhỏ và tỏ ra nhanh nhẹn hơn tôi sau mấy chiếc cột đó. Hai đứa dựa  vào tường và mở điện thoại ra xem video, những cũng chỉ xem được một hai video âm nhạc và hài hước, mưa to làm hai đứa cứ phải dí sát tai vào loa ngoài một cách khổ sở.

Tôi rủ em đi ăn cơm và cùng đi hẹn gặp anh bạn mà cả hai đứa cũng đã quen biết. Trước đó em vẫn quyết liệt không muốn đi gặp anh bạn này, nhưng sau cuộc nói chuyện vui vẻ kết thúc, có lẽ em đã thầm cảm ơn tôi vì đã giúp em vượt qua cái tính ngại gặp gỡ, ngại xã giao của mình. Chia tay anh bạn, hai đứa lái xe đi lòng vòng để lắng nghe em rút ra những kinh nghiệm được từ anh bạn và nghe em kể về kế hoạch của ông anh trai lười biếng. Dừng lại bên dòng sông, tôi và em tâm sự nhiều hơn và được ôm em thật lâu trong cảm giác hạnh phúc ấm áp và che chở cho em. Tôi yêu em nhiều hơn và thầm cảm ơn em vì những gì em đã mang đến cho tôi trong cuộc sống này!

P/s: Tôi lại ngố nữa! Đưa em về gần tới nhà, em nói hãy để em xuống cách một đoạn rẽ vào nhà nhưng vì khá muộn rồi nên tôi muốn đưa em vào tận nơi hay ít ra là đứng thấy em mở cửa đi vào nhà rồi mới về. Tôi không nhận ra ẩn ý đằng sau đề nghị của em, món quà mà em sắp dành tặng cho tôi (vì nó tốt hơn được thể hiện một chỗ riêng tư và không gần những hàng xóm "tối lửa tắt đèn"). Em luôn muốn thể hiện điều đó theo cách đẹp nhất! :"*


P/s: Kịp trở em về tới nhà, tôi lái xe về và lại gặp một cơn mưa, tuy không lớn như cơn mưa chiều và tôi cũng đã mặc lên chiếc áo mưa mỏng em mới mua nhưng việc ướt nước mưa lúc đó khiến tôi thầm vui, có lẽ ông trời đang phạt tôi vì tội la cà quá khuya và tôi nên nghe lời em về sớm hơn ^^

Thứ Ba, 24 tháng 7, 2012


QUẢN TRỊ THỜI GIAN



Ý thức về vấn đề quản trị thời gian

- Tại sao cần phải quản trị thời gian? Câu trả lời đúng đắn và phù hợp với từng các nhân khác nhau mới là một gợi ý tốt về việc cần làm gì để quản lý thời gian. Không phải vì là doanh nhân nên mới cần tới kỹ năng này, và cũng không có phương pháp nào là tốt nhất dành cho mọi doanh nhân để quản trị tốt thời gian. Khi  có quá nhiều việc và bạn cảm thấy không chắc chắn là mình có thể làm tốt tất cả mọi thứ, bấy giờ mới nhận ra tầm quan trọng của việc quản trị thời gian. Hay khi quá áp lực với công việc và bạn đổ lỗi cho rằng mình chưa biết quản lý tốt thời gian nên mới xảy ra như vậy? Nếu câu trả lời là như vậy thì việc bạn trở lên thụ động trong vấn đề quản lý thời gian sẽ không thể đem lại kết quả lâu dài. Bạn nghe ngóng được đâu đó về cách quản lý thời gian hiệu quả và thử một vài giải pháp, nhưng sẽ không đủ kiên trì để thực hiện những thứ giáo điều máy móc và không thực tế với từng hoàn cảnh cá nhân như thế. Không có phương pháp quản lý thời gian tốt nhất dành cho mọi người. Mỗi người sẽ phải cá nhân hóa phương pháp quản trị thời gian phù hợp cho riêng mình.
- Quản trị hay quản lý theo cách hiểu thì đều có tính khoa học và tính nghệ thuật. Chính vì gắn với khái niệm đó mà nhiều khi việc quản lý thời gian được nhìn nhận mang tính học thuật và khô khan. Mà thực tế thì không nên quá nguyên tắc hay giáo điều với một vấn đề thiên về kỹ năng sống như việc sử dụng thời gian. Nếu nói quản trị thời gian thì nên nghĩ thiên về tính nghệ thuật của việc này hơn là cố áp đặt những nguyên tắc giáo điều. Nghệ thuật bởi kỹ năng này phải là sự sáng tạo của chính mỗi cá nhân dành cho họ. Chính vì thế mà thay vì gọi với cái tên như quản trị hay quản lý thời gian mà hãy gọi vào thẳng bản chất của vấn đề: Thói quen sử dụng thời gian hiệu quả, từ “thói quen” cũng đã nói lên được tính cá nhân trong việc lựa chọn cho mỗi người phương pháp sử dụng hiệu quả nhất thời gian của mình.
- Quản trị thời gian hiểu rộng ra cũng là quản trị cuộc đời, quản trị thời gian hiệu quả khi nó chính là quản trị cuộc đời, nghĩa là không phải chỉ là bạn làm việc tốt ngày hôm nay, bạn sử dụng tốt 24h của hôm nay, mà phải ý thức được rằng những điều đó đang đưa tới cái đích cuối cùng trên con đường mà bạn đã chọn. Hãy nghĩ tới những giá trị mà bạn muốn vươn tới và cụ thể hóa nó bằng những công việc mà bạn tin tưởng sẽ cho bạn những kỹ năng thích hợp.

Một số định nghĩa mới mẻ liên quan tới vấn đề sử dụng thời gian hiệu quả

- “Khoảng trắng” – Tác giả Jim Collins gọi đó là sự tiên quyết cho những tư suy sáng tạo và mới mẻ. Đó chính thời gian ông không có lịch biểu làm việc vì vậy ông có thể thả lỏng đầu óc, giống như việc một cái bình cũ được đổ đầy rượu mới. Nó không đơn giản là những giây phút nghỉ ngơi mà là khoảng thời gian đầu óc được tự do suy nghĩ về những điều mới mẻ, theo cách đầy cảm hứng. Jim Collins còn dự định sử dụng 100 ngày trong năm tới trong “khoảng trắng”.
- “Thời gian không tạo thêm giá trị - non value-added time” – khi chúng ta quá mải mê và bận dộn với cả núi công việc, dự từ cuộc họp này tới cuộc họp khác và dự lại những cuộc họp tương tự vào tháng sau hoặc năm sau, bạn quen với sự gấp gáp đó và nghĩ rằng thời gian biểu tốt nhất nên như thế. Khi đó, ý thức về sự sáng tạo và đổi mới trở lên khan hiếm, chính vì thế không có giá trị mới nào được tạo ra.

Sử dụng thời gian như thế nào là hiệu quả?

Không có một hướng dẫn nào là đầy đủ và thích hợp nhất với từng cá nhân, xây dựng thói quen sử dụng thời gian hiệu quả phải xuất phát từ chính sự tự ý thức của mỗi người. Quan niệm về việc sử dụng thời gian như thế nào là hiệu quả chỉ là những gợi ý để nhận ra bạn có đang sử dụng tốt thời gian của mình hay không và nên điều chỉnh ở chỗ nào:
- Nếu có thể chia cuộc sống vào những khối khác nhau, bạn dành tỷ lệ thời gian cho mỗi khối là bao nhiêu? Jim Collins chia cuộc sống của mình thành 3 khối: 50% thời gian sáng tạo, 30% thời gian giảng dạy và 20% thời gian làm các việc khác ("những việc tình cờ, bất ngờ nhưng cần phải làm"). Điều này sẽ giúp bạn biết bạn đang thực sự quan tâm vào điều gì, ưu tiên cho điều gì và cũng nhắc nhở bạn cần nhanh chóng xử lý những việc không mấy quan trọng để không lấn sang thời gian dành cho những việc quan trọng hơn.
- Luôn dành thời gian cho sáng tạo, đó là lúc bạn thăng hoa và tạo ra giá trị mới.
- Thời điểm nào bạn làm việc tốt hơn – hãy dành cho những công việc quan trọng cần sự tập trung cao. Ưu tiên thời gian cho những công việc cần làm gấp và giải quyết các công việc vun vặt bất cứ khi nào có thể. Là một tác giả của sách bán chạy nhất, Jim Collins cần tập trung cho công việc viết lách của mình, ông sắp xếp: "Tôi dành thời gian từ 8 giờ sáng đến trưa để suy nghĩ, đọc và viết". Khi đó ông ngắt tất cả các thiết bị điện tử, ngắt kết nối mạng để có được tư duy tập trung nhất.
- Luôn cho mình được lựa chọn, bạn không nhất thiết phải làm tất cả, bạn không cần  phải gặp mặt tất cả khách hàng, không cần lắng nghe mọi cuộc điện thoại nếu tốt hơn là bạn gọi lại vào thời điểm thích hợp, không cần phải trả lời tất cả email ngay lập tức, hãy cho mình lựa chọn tốt nhất.
- Không nhất thiết phải xem lại tất cả công việc, nhưng vào một thời điểm không căng thẳng lắm hãy kiểm tra và tổng kết lại, đó như việc nhắc lại vấn đề xảy ra lần thứ hai để giúp bạn ghi nhớ tốt hơn và giải quyết công việc triệt để hơn.
- Không đánh cắp thời gian của chính bạn. Bạn có thể làm việc quá giờ nhưng phải luôn ý thức được tác hại của nó để không biến nó thành thói quen. Hàng ngày, luôn dành thời gian để chơi thể thao và thư giãn.
- Cố gắng kết thúc công việc, không để công việc dở dang.
- Hãy luôn gọn gàng, Gọn gàng, ngăn nắp trong cuộc sống thì có thể bành trướng và sáng tạo trong công việc” - Gustave Flaubert, tiểu thuyết gia người Pháp từng nói.



NGUYỄN VĂN TIẾN, 24-07-2012

Thứ Sáu, 20 tháng 7, 2012


QUY LUẬT CUNG CẦU HÀNG HÓA TRÊN THỊ TRƯỜNG

Xã hội phải tìm ra cách nào đó để ra quyết định sản xuất cái gì , sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai. Nền kinh tế hiện đại tin tưởng mạnh mẽ vào thị trường và giá cả để phân phối các nguồn lực vào những mục đích khác nhau. Sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa cầu (hành vi của người mua) và cung (hành vi của người bán) xác định sản lượng hàng hóa được sản xuất ra và mức giá để mua và bán hàng hóa đó.
Flowchart: Process: Không nên nhầm lẫn: Tại điểm cân bằng lượng cầu và lượng cung bằng nhau, chứ không phải là cung bằng cầu. Đó chỉ là một điểm sản lượng tại một mức giá nhất định trên cả đường cầu hay đường cung, khái niệm cung và cầu không bao giờ là một mức sản lượng cụ thểQuy luật cung cầu cho rằng thông qua sự điều chỉnh của thị trường, sẽ có một mức giá cân bằng (còn gọi là mức giá thị trường) và một lượng giao dịch cân bằng (lượng cung cấp bằng lượng nhu cầu) sẽ được xác định. Trạng thái cân bằng đó nên được hiểu là trạng thái “cân bằng động”, tức là giá cả và sản lượng trên thị trường biến động liên tục, giá cả và sản lượng không bao giờ chỉ gặp nhau ở điểm cân bằng rồi yên vị tại đó, điểm cân bằng như chỉ ra một đích đến hợp lý nhất cho xu hướng biến đổi của cả giá cả và sản lượng.
Điều gì đem lại sự cân bằng? Có phải thị trường tự đạt trạng thái cân bằng? Ta xem xét thị trường cung cầu sôcôla dưới đây:

Cầu và cung sôcôla
Giá
(₤/ thanh)
Lượng cầu
(thanh)
Lượng cung
(thanh)
0,00
200
0
0,10
160
0
0,20
120
40
0,30
80
80
0,40
40
120
0,50
0
160



Untitled.pngTrạng thái cân bằng được xác lập tại mức giá 0.30₤/thanh và sản lượng bằng 80 thanh. Giả sử ban đầu mức giá là 0.50₤, cao hơn mức giá cân bằng. Những người bán cung cấp 160 thanh nhưng không ai muốn mua tại mức giá đó → Dư thừa. Người bán giảm giá xuống 0.40₤ để bán số hàng tồn kho. Việc giảm giá xuống 0.40₤ có hai ảnh hưởng: tăng lượng cầu lên 40 thanh và giảm sản lượng người bán muốn cung cấp xuống 120 thanh. Cả hai ảnh hưởng này đều làm giảm dư cung. Giá tiếp tục giảm cho đến khi mức giá đạt 0.30₤ và dư cung biến mất.
Khi mức giá thấp hơn 0.30₤ thì diễn ra quá trình ngược lại. Tại mức giá 0.20₤ lượng cầu là 120 thanh nhưng lượng cung chỉ có 40 thanh. Người bán không có hàng để bán và đặt mức giá cao hơn. Việc khuyến khích tăng giá tục diễn ra cho đến khi đạt tới mức giá cân bằng, dư cầu biến mất và thị trường cân bằng.

Đường cầu diễn tả mối quan hệ giữa giá cả và lượng cầu khi những yếu tố khác không đổi. Vậy những yếu tố khác là gì?
ĐẰNG SAU ĐƯỜNG CẦU
Những yếu tố khác liên quan tới đường cầu được nhóm lại thành 3 loại: giá cả hàng hóa liên quan, thu nhập của người tiêu dùng và thị hiếu hay sự ưa thích hơn của người tiêu dùng.
→ Giá của một hàng hóa tăng làm tăng cầu cho hàng hóa thay thế nó và làm giảm cầu cho hàng hóa bổ sung cho nó.
→ Cầu đối với hàng hóa thông thường tăng khi thu nhập tăng. Cầu đối với hàng hóa thứ cấp giảm khi thu nhập tăng.
Double Bracket: Sự dịch chuyển của đường cầu: có sự phân biệt giữa sự vận động dọc theo đường cầu và sự dịch chuyển của bản thân đường cầu. Trong đó, giá cả gây ra sự vận động dọc đường cầu còn “những yếu tố khác” làm dịch chuyển đường cầu.
Sự dịch chuyển đường cầu khi đó sẽ làm thay đổi trạng thái cân bằng ban đầu
→ Thị hiếu người tiêu dùng được hình thành bởi sự thuận tiện, thói quen hay thái độ xã hội, thị hiếu thay đổi làm cầu về hàng hóa thay đổi.


ĐẰNG SAU ĐƯỜNG CUNG
Tương tự, ta có những yếu tố khác ảnh hưởng làm dịch chuyển đường cung, những yếu tố đó được nhóm vào 3 loại là: công nghệ phù hợp với nhà sản xuất, chi phí các yếu tố đầu vào (lao động, máy móc, nhiên liệu, nguyên vật liệu) và quy định của chính phủ. Mỗi một đường cung xác định được vẽ ứng với một công nghệ nhất định, chi phí đầu vào nhất định và chưa có thay đổi trong quy định của chính phủ.
→ Công nghệ cao hơn làm dịch chuyển đường cung sang phải. Nhà sản xuất muốn cung cấp nhiều hơn tại mỗi mức giá.
→ Chi phí đầu vào thấp hơn khiến các hãng muốn sản xuất nhiều hơn tại mỗi mức giá, làm dịch chuyển đường cung sang phải. Mức giá đầu vào cao hơn làm giảm sức hấp dẫn của việc sản xuất và dịch chuyển đường cung sang trái.
→ Những quy định bất lợi của chính phủ (quy định an toàn nghiêm ngặt, sản xuất bền vững, bảo vệ môi trường…) sẽ làm giảm cung và làm dịch chuyển đường cung sang trái. Những chính sách ưu tiên sản xuất của chính phủ (gia hạn thời gian nộp thuế, lãi suất, thuế suất ưu đãi, …), ngược lại, sẽ làm tăng cung và dịch chuyển đường cung sang phải.

Thứ Ba, 17 tháng 7, 2012

Quy luật giá trị - C.Marx
Giá trị hàng hóa được xác định như thế nào? Cơ sở để trao đổi giá trị của hàng hóa trên thị trường là gì? Tác động của quy luật giá trị tới nền sản xuất hàng hóa?

Nội dung của Quy luật giá trị cho biết sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết, hay chính là thời gian lao động xã hội cần thiết (thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một loại hàng hóa nào đó trong điều kiện sản xuất bình thường của xã hội với trang thiết bị trung bình, một trình độ thành thạo trung bình, và một cường độ sản xuất trung bình tại một thời điểm của xã hội). Việc xác định điều kiện sản xuất bình thường hay sản xuất ở một mức độ trung bình của xã hội cũng mang tính tương đối, có thể đó là điều kiện sản xuất của người cung ứng lớn nhất lượng sản phẩm đó. Hoặc được tính sau (chứ không phải xác định được trước đó) bằng cách lấy trung bình thời gian lao động cá biệt của tất cả những người cung ứng sản phẩm đó. Thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất một sản phẩm cũng thay đổi theo thời gian, do đó mà giá trị của sản phẩm cũng thay đổi, nó có thể trở lên cao cấp hơn hoặc cũng có thể bị thay thế và trở lên lỗi thời.

Đồ thị trên cho thấy:
- Thứ nhất: Giá trị là cơ sở để xác định giá cả, và giá cả (hay giá trị trao đổi) là biển hiện ra bên ngoài của giá trị. Sự vận động của quy luật giá trị thông qua sự vận động của giá cả hàng hóa. Giá trị hàng hóa càng cao thì giá cả càng cao.
- Thứ hai: Giá cả hàng hóa trao đổi trên thị trường phụ thuộc vào sự thương lượng giữa người mua – người bán trên cơ sở thời gian lao động xã hội cần thiết tạo ra sản phẩm đó. Trong khi đó giá trị thường do người bán xác định trên cơ sở thời gian lao động cá biệt. Giá cả bằng giá trị khi trao đổi được thực hiện theo nguyên tắc ngang giá. Tuy nhiên, hàng hóa không chỉ phụ thuộc vào giá trị mà còn phụ thuộc vào các yếu tố như: cạnh tranh, cung cầu, sức mua của đồng tiền nên giá cả giao động quanh giá trị. Các yếu tố đó khiến cho quy luật ngang giá không còn đúng trong trao đổi hàng hóa trên thị trường, thực tế, giá cả thị trường luôn biến đổi lên xuống quanh giá trị hàng hóa đó. Sự vận động của giá cả thị trường xung quanh trục giá trị của nó chính là cơ chế tác động của quy luật giá trị.

P/s: Một khái niệm cần chú ý nữa là Giá trị sử dụng: Giá trị sử dụng của một sản phẩm lao động là những tính chất có ích, công dụng nhằm thỏa mãn một nhu cầu sản xuất hay như cầu tiêu dùng nào đó. Người sản xuất tạo ra sản phẩm bằng thời gian lao động cá biệt, nhưng người bán và người mua lại đàm phán với nhau bằng giá trị sản phẩm của sản phẩm, và giá cả hay giá trị trao đổi chính là quyết định cuối cùng để người bán bán được sản phẩm và người mua có được sản phẩm. Có nghĩa là luôn có “khoảng cách” giữa giá trị - giá trị sử dụng – giá cả, nhìn từ phía người sản xuất, để bán được hàng và bán có lãi, họ không những phải giảm thời gian lao động cá biệt của mình xuống mà còn phải tự nhận thức được những giá trị sử dụng của sản phẩm làm ra là gì? Quá trình sản xuất có đang tạo ra đúng những giá trị sử dụng đó không hay gây lãng phí, rườm rà? Hơn nữa phải khiến cho người mua, người sử dụng nhận thức hết được những giá trị đó và trả mức giá xứng đáng với giá trị sử dụng của sản phẩm.

Tác động của quy luật giá trị tới nền sản xuất hàng hóa trên ba khía cạnh:                            
- Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa: Thông qua giá cả, người/ngành sản xuất tốt sẽ thu được lãi nhiều, thu hút người khác sản xuất vào ngành đó, thu hút người lao động và tư liệu sản xuất. Người/ ngành làm ăn thua lỗ sẽ phải thu hẹp sản xuất và nhường nguồn lực sang các ngành sản xuất tốt hơn.
- Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất Giảm thời gian lao động cá biệt Thu lợi nhuận cao.
- Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hóa người sản xuất hàng hóa Người sản xuất tốt sẽ thuê thêm lao động, máy móc, mở rộng kinh doanh và trở thành các ông chủ. Người làm ăn thua lỗ sẽ phải thu hẹp sản xuất, phá sản và trở lên thấp kém trong xã hội.